Hiển thị các bài đăng có nhãn thu-vien. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thu-vien. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2016

Những tình huống xảy ra trong ngành sư phạm mầm non


Trong giáo dục ngành học sư phạm mầm non, các tình huống thường xuyên xảy ra và muôn màu, muôn vẻ: Khi thì do mâu thuẩn của trẻ và điều kiện sống, khi thì đòi hỏi của người lớn xung quanh với khả năng và tính nết của trẻ, có khi lại do mâu thuẩn của chính trẻ em với nhau trong hoạt động.
Tình huống trong giáo dục mầm non vô cùng phong phú và đa dạng bởi sự phát triển của trẻ rất khác nhau. Mỗi cháu một tính nết riêng, một khả năng riêng, tình huống lại xảy ra trong những thời điểm và không gian khác nhau. Không thể có một giải pháp nào chung chung cho mọi đứa trẻ vì mỗi bé là một con người riêng biệt.
Tình huống sư phạm xảy ra
Ảnh sưu tầm
Để giúp cho cô giáo mầm non đỡ lúng túng khi tìm các giải pháp cho các tình huống có thể xảy ra khi tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ, bài viết đưới đây đã tổng hợp lại các tình huống thường xuyên xảy ra ở các lớp mầm non, đồng thời gợi ý và lựa chọn các giải pháp phù hợp cho các giáo sinh mầm non nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo giáo viên Mầm non trong giai đoạn hiện nay.

Tình huống 1:



Trong giờ vẽ theo mẫu (vẽ bông hoa) chủ đề “Thực Vật”, mọi trẻ đều say sưa vẽ, bé Tuấn ngồi im không vẽ, Cô giáo đến gần và hỏi: “Sao Tuấn không vẽ đi, các bạn vẽ rất đẹp và gần xong rồi”. Bé trả lời: “Con không thích vẽ bài này”. Nếu là giáo viên đó, bạn sẽ giải quyết như thế nào?
Cách giải quyết:
– Cô thử hướng trẻ vào nội dung bài vẽ giống các bạn: “cô thấy Tuấn vẽ rất đẹp, đẹp hơn nhiều bạn trong lớp. Con vẽ nhé nếu con thấy khó cô sẽ vẽ cùng con”.
– Nếu Tuấn vẫn không vẽ, cô sẽ giúp trẻ bằng cách gợi ý hoặc giải thích trình tự hoặc trình bày mẫu… tùy theo khả năng của trẻ.
– Nếu trẻ vẫn nhất định không vẽ, cô hỏi Tuấn thích vẽ gì? Cô sẽ đưa mấu ví dụ như nam linh chi cho con vẽ (thực hiện mực đích của giờ vẽ theo mẫu), nếu trẻ vẽ xong theo sở thích cô động viên trẻ thực hiện bài học trên.
– Cuối giờ cô nhận xét bài vẽ của cả lớp và giành thời gian nhận xét bài vẽ của Tuấn (tùy sản phẩm của cháu, 1 hoặc 2 bài) và nhắc nhở nhẹ nhàng để Tuấn thực hiện nhiệm vụ của giờ học như các bạn trong lớp.

Tình huống 2:

Khi dạy trẻ hát và vỗ tay theo nhịp bài hát: “Chú bộ đội đi xa” nhịp ¾ có một số trẻ không biết vỗ tay theo nhịp mà vỗ ngược lại… Cô giáo phải làm gì để trẻ có cảm nhận và vỗ tay đúng được theo nhịp.
Cách giải quyết:
– Cô dạy trẻ thuộc lời bài hát và hướng dẫn trẻ vỗ đệm theo nhịp từng câu một đến hết bài.
– Nếu trẻ vẫn không thực hiện được cô cho trẻ đứng vòng tròn hoặc đứng hàng dọc, bước nhúng vào phách mạnh của nhịp, lúc đầu có thể đếm, sau đó thì ghép nhạc.

Tình huống 3:

Trong giờ làm quen với tác phẩm văn học (dạy trẻ kể chuyện), cô đang say sưa kể chuyện cho trẻ nghe, bỗng một bé kêu đau bụng và khóc rất to. Bạn sẽ làm như thế nào để lớp không bị xáo trộn và ảnh hưởng đến các lớp khác mà vẫn chăm sóc được bé đó ?
Cách giải quyết:
– Cô đến gần cháu đó bế trẻ và thông báo cho cả lớp biết tình hình sức khỏe của bạn và yêu cầu lớp trật tự làm theo yêu cầu của bạn lớp trưởng.
– Cô giao nhiệm vụ cho lớp trưởng cho cả lớp đọc thơ, hát hoặc chỉ định các bạn hát, đọc thơ…
– Cô đưa bé bị đau bụng vào phòng nghỉ hoặc trải chiếu cho bé nằm, hỏi bé đã ăn những thức ăn gì, có thể xoa dầu cho bé và theo dõi.
– Nếu thấy cháu không đỡ cô nhờ cô giáo phụ trách lớp bên cạnh quản lý lớp và cho cháu xuống phòng y tế của trường theo dõi và xử lí kịp thời, hợp lí.

Tình huống 4:

Trong giờ chơi theo góc của trẻ mẫu giáo, ở góc chơi “Bé tập làm bác sĩ”, bé Hoa đang hăm hở bế búp bê đến bác sĩ Mai khám bệnh. Bé Hoa bế búp bê ngồi vào ghế dành cho bệnh nhân, bác sĩ Mai cứ ngồi nghịch ống nghe mà không biết Hoa đang ngồi chờ khám bệnh. Chờ một lúc bé Hoa bế búp bê đứng dậy, vừa đi vừa quay lại nhìn bác sĩ Mai. Bác sĩ Mai vẫn ngồi nghịch ống nghe say sưa… Nếu là bạn tổ chức giờ chơi đó, bạn sẽ làm gì để thỏa mãn nhu cầu chơi của bé Hoa ?
Cách giải quyết:
– Cô đóng vai bệnh nhân đến khám bênh và rủ bé Hoa đi cùng.
– Cô chào bác sĩ Mai và nhờ bác sĩ khám bệnh. Khi bác sĩ khám xong, cô hỏi bác sĩ Mai xem cô bị bệnh gì? Uống thuốc gì?… Cô nhận thuốc và cảm ơn bác sĩ, chào bác sĩ và ra về cố nhắc bệnh nhân Hoa vào khám.
– Cô quan sát, nếu Hoa không biết giao tiếp với bác sĩ, cô hướng dẫn Hoa nhập vai bênh nhân để thực hiện ý tưởng chơi “mẹ bệnh nhân”.

Tình huống 5:

Trong khi rửa mặt cho trẻ 24-36 tháng, phát hiện một trẻ bị đau mắt thì cần xử lí như thế nào ?
Cách giải quyết:
– Để lại chác đó và rửa sau cùng, sau khi rửa xong cho cháu đó, khăn mặt phải để ở chậu riêng, giặt bằng xà phòng, luộc nước sối rồi phơi nắng.
– Cô rửa sạch tay bằng xà phòng, sát khuẩn bằng cồn để tránh lây nhiếm sang các bé khác.
– Dùng thuốc nhở mắt để nhỏ mắt cho trẻ và cách ly với trẻ khác.
– Giờ trả bé trao đổi với gia đình để cùng phối hợp (có thể cho trẻ nghỉ học để tránh lây sang các bạn khác).

Tình huống 6:

Ở lớp mẫu giáo, giờ đi dạo sân trường, cô tổ chức cho trẻ chơi dich vu sua nha với cát và nước. Khi thời gian đã hết, cô yêu cầu trẻ đi rửa tay, chân để chuyển hoạt động khác. Cháu Hùng nhất định không nghe, cứ ngồi chơi mãi, tiếp tục nghịch cát. Hãy giải thích hiện tượng trên. Nếu là giáo viên tổ chức hoạt động đó, bạn sẽ xử lí như thế nào?
Giải thích:
Biểu hiện tính bướng bỉnh của tuổi lên ba. Ở tuổi này là lúc cái tôi xuất hiện. Trẻ đang tự muốn khẳng định mình. Đặc biệt là trẻ rất thích chơi với cát, nước, đất và ít có cơ hội được chơi nên khi cô yêu cầu trẻ vệ sinh trẻ làm ngược lại.
Cách giải quyết:
– Cô nhẹ nhàng giải thích cho trẻ hiểu thời gian chơi đã hết và gợi ý cho trẻ hoạt động tiếp theo có nhiều đồ chơi, trò chơi rất hay (cô lấy ví dụ trò chơi có ở hoạt động tiếp theo).
– Thông báo cho trẻ biết kế hoạch của buổi hoạt động ngoài trời trong tuần (tháng) và cho biết lúc đó nếu bé thích chơi thì bé sẽ chơi tiếp (nếu có nội dung chơi này).
– Nếu cháu vẫn không chịu cô cho trẻ chơi thêm vào giao hẹn với cháu khi cô rửa tay, chân xong cho bạn cuối cùng thì đến lượt cháu và cô cháu mình cùng thi rửa tay, chân xem ai rửa sạch hơn…

Tình huống 7 :

Trong giờ hoạt động góc của lớp mẫu giáo lớn đã diễn ra được khoảng 30 phút. Ở góc chơi xây dựng, trẻ đã xây xong công trình “trường mầm non của bé”. Cô giáo đi tới, đứng lại và hỏi trẻ: “Các con xây xong chưa ?“, trẻ trả lời: “Thưa cô, xong rồi ạ”. Cô giáo đứng ngắm công trình nha xinh của trẻ một lát rồi đi làm việc khác. Trẻ ở góc chơi đó nhìn theo và chờ đợi cô… Nếu là bạn tổ chức giờ chơi đó, bạn xử lý như thế nào ?
Cách giải quyết:
– Cô trò chuyện với trẻ về công trình xây dựng để nắm bắt được ý tưởng chơi của trẻ.
– Cô và trẻ cùng bàn bạc về công trình xây dựng: bố cục, kĩ năng xây dựng của trẻ, cái gì được cô động viên, khuyến khích, cái giừ chưa được cô gợi ý cho trẻ rút kinh nghiệm.
– Nếu còn thời gian, cô gợi ý xem trẻ có muốn xây dựng thêm gì cho công trình đẹp hơn, hoặc có nhu cầu chơi xây dựng gì nữa (tùy theo thời gian thực hiện chủ đề để gợi ý) và có chuẩn bị đồ chơi cho trẻ tiếp tục chơi.

Tình huống 8:

Cô giáo thực tập ở lớp mẫu giáo lớn, cô chuẩn bị dạy trẻ bài hát: “Em thêm một tuổi” (Chủ đề tết và mùa xuân), cô giới thiệu tên bài hát, tác giả bài hát và hát cho trẻ nghe. Cô đang hát bỗng 1 bé trai đứng lên nói: “Thôi cô ơi, cô đừng hát nữa, cô hát sai hết cả rồi”, làm cô giáo bối rối, lúng túng và lại càng hát lạc giọng hẳn đi. Là giáo viên cùng nhóm thực tập, bạn sẽ làm thế nào ?
Cách giải quyết
– Đến gần cô giáo nói nhỏ để mình dạy thay và nói với trẻ: “Hôm nay cô Nga dạy lớp mình hơi mệt, nên cô Nga bị mất giọng, cô sẽ giúp cô Nga dạy lớp mình bài hát này nhé”.
– Cô khen bé trai đã biết được giai điệu bài hát nhưng lần sau nếu muốn phát biểu các bé giơ tay xin phát biểu không được nói leo nhất là khi cô giáo đang hát và con nói nhỏ vào tay cô thôi vì có khi cô giáo hôm đó bị ốm nhưng vẫn cố gắng để dạy cả lớp mình để không ảnh hưởng tới các bạn khác.
– Góp ý với cô giáo trong nhóm nên chuẩn bị chu đáo trước khi đi dạy trẻ, nếu hát chưa hay nhưng phải hát đúng để đảm bảo chất lượng giờ dạy.

Tình huống 9:

Trong giờ ngủ trưa, có một số bé chưa ngủ được. Bé thì nằm mở mắt thao láo, trằn trọc suốt buổi trưa, bé thì nằm mãi cảm thấy thừa chân, thừa tay cấu véo bạn nằm bên cạnh để bạn khóc ré lên, có bé thì lại khóc ti tỷ đòi về với mẹ… Bạn sẽ xử lí như thế nào để không ảnh hưởng tới các cháu khác ?
Cách giải quyết:
– Tạo cho trẻ thói quen ngay từ buổi đầu tiên khi đến giờ ngủ.
– Cô kể chuyện, không kể to, kể nhè nhẹ để trẻ trật tự, im lặng nghe và dễ dàng đi vào giấc ngủ hoặc cô hát ru và quan tâm đến những bé khó ngủ.
– Trường hợp bé không muốn ngủ không nên ép buộc trẻ, nên tách trẻ sang phòng khác cho trẻ chơi trò chơi tĩnh như: xếp hình, vẽ, nặn và đồng thời trao đổi với phụ huynh để đảm bảo cho trẻ được ngủ đủ số thời gian quy định trong một ngày.

Tình huống 10:

Trong giờ chơi tập có chủ đích (đối tượng trẻ 18 – 24 tháng) với nội dung “ Chọn đồ chơi màu đỏ”. Khi cô giáo yêu cầu: “Các con chọn cho cô nơ màu đỏ” thì có một số trẻ chọn nơ màu xanh. Hãy giải thích tình huống trên và nêu cách xử lí của mình.
Có thể do 3 nguyên nhân:
– Trẻ chưa chú ý nghe yêu cầu của cô.
– Trẻ chưa nhận biết được màu đỏ.
– Trẻ thích làm ngược lại yêu cầu của cô.
Cách xử lí:
– Cô đến gần và hỏi trẻ trên tay bé đang cầm nơ màu gì và nhắc lại yêu cầu để trẻ chọn đúng. Hoặc cho trẻ nhắc lại yêu cầu hoặc cầm nơ màu đỏ lên để trẻ so sánh.
– Nếu trẻ không tìm được cô giúp trẻ tìm và cho trẻ nhắc lại cùng cô màu sắc của nơ cô và trẻ vừa tìm được.

Dinh dưỡng trẻ em 1 - 3 tuổi

Tài liệu cho học viên

III- DINH DƯỠNG TRẺ EM TỪ 1-3 TUỐI


Trẻ sau một năm vẫn tiếp tục lớn và phát triển nhanh nhưng bộ máy tiêu hóa chưa phát triển hoàn thiện^ Khẩu phần ăn hàng này không hợp lí -> trẻ bi rối loan tiêu hóa,SDD

1- Nhu cầu vê năng lượng và các chât dinh dưỡng

-Năng lượng được xem là nhu cầu số 1: năng lượng cần cho hoạt động cơ thể và cần đủ để tích luỹ tạo ra sự lớn của tổ chức cơ thể.
-Nhu cầu năng lượng/ngày:1.100- 1.300 Kcal
- Ở trường mầm non, nhu cầu dinh dưỡng cần cung cấp ở nhà trường phải đạt được 60 - 70% về năng lượng và các chất dinh dưỡng trong một ngày

              NHU CÂU NĂNG LƯỢNG VÀ CÁC CHẤT DINH DƯƠNG CỦA TRẺ / NGÀY


CÁC CHẤT DINH DƯỠNG

ĐƠN VỊ
1 ĐẾN 3 TUỔI
NĂNG LƯƠNG
Kcal
1100 -1300
PROTID
g/kg thể trọng
2 -3
LIPID
g/kg thể trọng
3 -4
GLUCID
g/kg thể trọng
14 -15
Calci

mg
500
Fe (sắt)
mg
6
Vitamin A
Microgam
400
Vitamin D
Microgam
15
VitaminB1
Mg
0 8




Vitamin PP
Mg
9,0



Ill- DINH DƯỠNG TRẺ EM TỪ 1-3 TUỒI

1/ Nhu cầu về dinh dưỡng

Vitamin và chất khoáng rất cần thiết cho cơ thể trẻ. Để đảm bảo cho trẻ được cung cấp đầy đủ vitamin và chất khoáng chúng ta cần cho trẻ ăn các loại thức ăn đa dạng từ các nguồn thực phẩm khác nhau

a-Nguyên tăc và chê độ ăn của trẻ

*    Ăn nhiều bữa để đủ nhu cầu vì lượng dự trữ glucid ở trẻ em rất ít nên chóng đói, chóng mệt lả khi đường huyết hạ.
Cho trẻ ăn nhiều bữa vừa là cách đảm bảo đủ nhu cầu khi lượng ăn của trẻ chưa cao. Số bữa ăn của trẻ sẽ bớt dần khi lượng ăn của trẻ được tăng lên.
*    Cần thay đổi mùi vị cảm quan... để kích thích trẻ ăn vì Trẻ rất dễ chán ăn, nhất là ăn lặp đi, lặp lại các món quen thuộc.

2- Phương pháp dinh dưỡng

a -Nguyên tắc và chế độ ăn của trẻ

* Thức ăn phải từ mềm đến cứng, từ ít đến
nhiều vừa phù hợp với sự phát triển cơ năng sinh lí vừa tạo nên sự thích ứng hợp lí.
Thức ăn mềm (nghiền nát, nấu nhừ)
Cho trẻ ăn đặc dần để tăng lượng ăn phù hợp với sức  chứa của dạ dày.
* Nghiêm khăc trong chê độ ăn đối với trẻ: 
Vì các phản xạ ăn uống của trẻ mới hình thành, chưa được củng cố chắc chắn nên phải rèn luyện cho trẻ.
*Hạn chê ăn nhiều đường trước bữa ăn vì đường
dê thoả mãn cảm giác đói, dê chán ăn thức ăn khác gây mất cân bằng dinh dưỡng.
*    Đề phòng trẻ bị nhiễm khuẩn do thức ăn và dị ứng với thức ăn lạ.
*  Cần uống đủ nước.
* Trẻ ngủ đủ giấc cũng là biện pháp hỗ trợ tích cực

b-Chế độ ăn của trẻ từ 13 đến 18 tháng

Chế độ ăn cháo từ 13 đến 18 tháng, có thể cho trẻ ăn sớm hơn 1 đến 2 tháng nếu trẻ đã chán ăn bột.
- Chế độ ăn cháo: ở tuổi này trẻ chưa đủ răng sữa nên thức ăn cần phải mềm, nấu nhừ, nửa đặc, nửa loãng. -
Đến cuối lứa tuổi, phải chuẩn bị cho trẻ biết ăn cơm.
- 11 đến 12 tháng: ăn cháo loãng.
- đến 15 tháng: ăn cháo đặc.
-16 đến 18 tháng: ăn cháo thật đặc hoặc cơm nát nhưcháo đặc.
Trẻ cần ăn 4 - б bữa trong 1 ngày trong đó có 2 -3 bữa bú mẹ (hoặc sữa khác).
Ở nhà trẻ cho trẻ ăn 3 bữa cháo và cho trẻ ăn thêm một bữa phụ: yaourt, sữa đậu nành, trái cây. và đảm bảo cho trẻ khoảng 600 - 7QQ Kcalo/ ngày, phần còn lại do bữa ăn của gia đình cung cấp.
Phối hợp nhiều loại thực phẩm để bữa ăn đủ và cân đối chất dinh dưỡng.
Thường xuyên thay đổi thực phẩm, cách chế biến phù hợp để trẻ ăn ngon miệng, hết suất.
Môt bữa cháo có các thưc phâm chính như:
Gạo: 30 - 40 gam (cháo loãng); 50 gam (cháo đặc). Thịt: 25 - 30 gam hoặc cá tôm cua; đậu đỗ: 5 gam. Rau củ: 20 - 25 gam. Dầu ăn: 5 - 10 gam. Nước mắm: 5 gam.  Hành, mùi (ngò): vừa đủ 

HINH VUONG THỰC PHAM CA NGAY CUA TRE 13-18 THANG


Gluxit Gao 100g
Protein Thit 30g Trting 1 qua Dau do 50g
Vitamin
Sữa mẹ hoặc sữa    Đậu nành


Muoi khoáng
Rau củ 100g
Chuối1quả
                                     Dầu thực vật 10g


c- Chế độ ăn của trẻ từ 19 đến 36 tháng
 Từ 19 tháng trẻ mọc nốt 4 răng sữa cuối cùng và trên 2 tuôi trẻ có đủ răng sữa. Chế độ ăn của trẻ chuyển dần sang chế độ ăn như người lớn nhưng phải có chất lượng và mềm, nhừ hơn.
-Trong nhà trẻ có nhóm cơm nát: 19 đến 24 tháng nhóm cơm thường: 25 đến 36 tháng.
Mỗi ngày  trẻ được ăn từ 5- 6 bữa ( chính và phụ )
Chế độ ăn cháo từ 13 đến 18 tháng, có thể cho trẻ ăn sớm hơn 1 đến 2 tháng nếu trẻ đã chán ăn bột.
- Chế độ ăn cháo: ở tuổi này trẻ chưa đủ răng sữa nên thức ăn cần phải mềm, nấu nhừ, nửa đặc, nửa loãng.
 -Đến cuối lứa tuổi, phải chuẩn bị cho trẻ biết ăn cơm.
- 11 đến 12 tháng: ăn cháo loãng.
- đến 15 tháng: ăn cháo đặc.
-16 đến 18 tháng: ăn cháo thật đặc hoặc cơm nát như cháo đặc.
HÌNH VUÔNG THỰC PHẨM CẢ NGÀY CỦA TRẺ18- 36 THÁNG
Gluxit Gạo 150g
Prôtêin Thịt 80g Hoặc cá tôm Đâu đỗ 50g

Sữa Đâu nành
m
200ml+ 20g đường

Vitamin
Muốikhoáng
Rau củ 200g Chuối1quả
Lipit Dầu thưc vât 20g

IV- DINH DƯỠNG TRẺ EM TỪ 4- 6 TUỔI


1- Nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng

- Với lứa tuổi mẫu giáo cần chú ý đảm bảo nhu cầu về năng lượng nhiều hơn lứa tuổi nhà trẻ.
- Ở lứa tuổi 4 đến 6 tuổi, năng lượng cần: 1500 –1600 Kcal/ trẻ / ngày.
-Nhu cầu cần cung cấp ở trường mẫu giáo phải đạt 50– 60% nhu cầu các chất dinh dưỡng trong 1 ngày.
-Hằng ngày trẻ được ăn từ 4 – 5 bữa, trong đó ởtrường mẫu giáo trẻ được ăn ít nhất là 2 bữachính và 1 bữa phụ.

2- Xây dựng hình mảng thực phẩm

- Trẻ ở độ tuôi này có các gai vị giác rải rác khăp mặt lưỡi nên rất thích ăn đồ ăn ngọt^ Chất ngọt rất nhanh làm dịu đói, ở lượng cao, kích thích niêm mạc dạ dày, và tới ruột dễ đàng gây cảm giác no.
Vì vậy, nếu thường xuyên cho trẻ ăn đồ ngọt dễ gây ra thiếu dinh dưỡng về chất lượng.
-Cần cho trẻ ăn một lượng sữa và chế phẩm trứng, thịt nạc , các loại rau quả tươi cao hơn ở người lớn
GLUXIT : Gạo 100 – 120g ; Thit ( tôm ,cá, trứng, lạc , vừng …) 20 – 30g
Rau , cue, quả : 30 – 50g ;  Dầu thực vật 10g ; Sữa đầu nành 120ml
Rau các loại: 20 - 30 g.
Sữa hoặc sữa đâu nành: 100 - 120 ml.
 Chè , đậu đường : 120 - 150

3- Cách chế biến các món ăn

- Loại glucid thích hợp nhất cho trẻ lứa tuổi này là sữa, trái cây, rau tươi...
Nên tránh các món ăn quá mặn, chua, cay. các đồ gia vi các loại bánh rán, bánh nhân mỡ, thit nhiều mỡ.
-Cần chú ý phối hợp nhiều loại thực phẩm để bữa ăn đủ và cân đối các chất dinh dưỡng.
- Mỗi ngày trong khẩu phần ăn của trẻ phải được sử dụng tối thiểu là 20 loại thực phẩm khác nhau
Lượng lương thực, thực phẩm cần cho trẻ Trong/ bữa chính
Gạo: 80 - 100 g (tuỳ nhóm lớp: mầm, chồi, lá). Thịt (hoặc cá, trứng...): 40 - 50 g.
Dầu mỡ: 12 - 15 g.
Nước mắm: 8 - 10 g.
Rau các loại: 40 - 50 g.
Trái cây: 40 - 60 g (tuỳ các loại).
Lượng lương thực, thực phẩm cần cho trẻ Trong 1 bữa phụ
Gạo: 30 - 50 g (tuỳ nhóm lớp: mầm, chồi, lá). Nếu là các thực phẩm như: nui, mì, miến, phở. thì tính lượng tương đương.
Thịt (hoặc cá, trứng.): 20 - 30 g.
Rau các loại: 20 - 30 g.
Sữa hoặc sữa đâu nành: 100 - 120 ml.
 Chè , đậu đường : 120 - 150
Cần đảm bảo các khâu lựa chọn thực phẩm tươi ngon, vận chuyển, chế biến và bảo quản tốt
 -Chế biến phải phù hợp lứa tuổi nấu chín, dễ tiêu hóa.
- Tăng cường đạm động vật trong khẩu phần ăn

Thứ Năm, 28 tháng 4, 2016

Câu hỏi ôn tập quản lí mầm non K4/2016

Thông báo tài liệu học tập

CÂU HỎI ÔN TẬP
Module 1 : Đường lối phát triển giáo dục và đào tạo Việt Nam
1. Tình hình giáo dục Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010
- Phân tích thành tựu và nguyên nhân?
- Phân tích yếu kém, bất cập và nguyên nhân?
2. Phân tích các giải pháp phát triển Giáo dục Đào tạo giai đoạn 2011 – 2020
- Tại sao nói đổi mới quản lý giáo dục là giải pháp đột phá?
- Tại sao nói phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý là giải pháp then chốt?
Module 2 : Quản lý chuyên môn trong trường mầm non
1. Anh/chị hãy trình bày những đặc điểm riêng của quản lí giáo dục mầm non. Giải thích tại sao quản lí giáo dục mầm non lại có những đặc điểm đó?
2. Với vai trò là chủ trường mầm non anh/chị có những lưu ý gì trong quản lí nhân sự?
Module 3 : Quản lý hành chính Nhà nước về giáo dục và đào tạo
1. Phân tích nguyên tắc tổ chức và hoạt động  của Nhà nước CHXH CNVN?
2. Hãy nêu quyền và nghĩa vụ của người dạy? Cho ví dụ? Quyền và nghĩa vụ của người học? Cho ví dụ? (Luật giáo dục)
3. Những điều viên chức không được làm? (Luật viên chức)
Module 4 : Quản lý nhà trường
1. Quá trình phối hợp giữa giáo viên và gia đình được thực hiện qua những hình. thức nào? Liên hệ thực tế việc sử dụng các hình thức đó ở địa phương của bạn?
2. Anh/chị hãy nêu các ứng dụng của CNTT trong các hoạt động ở trường anh/chị.
3. Tác động của CNTT đối với giáo dục?
4. Anh/chị hãy cho biết các ứng dụng của CNTT trong giảng dạy ở trường anh/chị.
5. Anh/chị hãy cho biết các ứng dụng của CNTT trong quản lý ở trường anh/chị.
6. Những khó khăn, thuận lợi khi ứng dụng CNTT vào giảng dạy?
7. Theo anh/ chị Hiệu trưởng có vai trò như thế nào trong việc triển khai ứng dụng CNTT vào các hoạt động nhà trường.
8. Anh/ chị hãy đề xuất các biện pháp để triển khai ứng dụng CNTT ở trường mình có hiệu quả
Module 5 : Kỹ năng hỗ trợ quản lý trường mầm non
1. Phân tích bản chất và ưu nhược điểm của phong cách lãnh đạo dân chủ. Cho ví dụ minh họa.
2. Phân biệt phương pháp luật đa số và phương nhất trí trong việc ra quyết định quản lý. Cho ví dụ minh họa. Rút ra kết luận sư phạm cho bản thân trong việc sử dụng các phương pháp ra quyết định quản lý.
Với tư cách là người chủ trì, anh/ chị cần tổ chức như thế nào để cuộc họp thành công?
Ghi chú: Câu hỏi ôn tập không phải là câu hỏi thi. Mọi thông tin chi tiết xin liên hệ trung tâm.
Xem lịch thi tại đây

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2016

Các đặc điểm sinh lý, bệnh lý và cách nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ

Trung tâm chia sẻ tài liệu học nghiệp vụ Cấp dưỡng mầm non, Bảo mẫu mầm non, Nghiệp vụ sư phạm mầm non, các học viên tải về tham khảo nhé.

CÁC ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ - BỆNH LÝ VÀ CÁCH NUÔI DƯỠNG VÀ CHĂM SÓC TRẺ

Tham khảo tài liệu học tập

1. Thời kỳ phát triển trong tử cung
1.1. Giới hạn
Thời kỳ phát triển trong tử cung được tính từ lúc trứng được thụ tinh cho đến khi trẻ ra đời (cắt rốn), trung bình là 270 – 280 ngày. Thời kỳ này được chia ra 2 giai đoạn:
– Giai đoạn phôi thai: 3 tháng đầu.
– Giai đoạn rau thai: 6 tháng cuối.
2. Thời kỳ sơ sinh
2.1. Giới hạn
Tính từ lúc trẻ ra đời cho đến khi trẻ tròn 4 tuần lễ.
Từ lúc đẻ đến 28 ngày đặc điểm sinh học chủ yếu là sự thích nghi với môi trường bên ngoài.
 2.2. Đặc điểm sinh lý
– Đặc điểm sinh lý chủ yếu của thời kỳ này là sự thích nghi của đứa trẻ với cuộc sống bên ngoài tử cung. Ngay sau khi ra đời, cùng với tiếng khóc chào đời, trẻ bắt đầu thở bằng phổi, vòng tuần hoàn chính thức bắt đầu hoạt động thay cho vòng tuần hoàn rau thai, trẻ bắt đầu bú, hệ tiêu hoá bắt đầu làm việc, thận bắt đầu đảm nhiệm việc điều hoà môi trường bên trong cơ thể (nội môi). Tất cả các nhiệm vụ này, trước đây đều do rau thai đảm nhiệm.
– Cơ thể trẻ lúc này còn rất non yếu, cấu tạo và chức năng của các cơ quan chưa được hoàn thiện đầy đủ. Hệ thần kinh của trẻ luôn trong tình trạng bị ức chế, cho nên trẻ ngủ suốt ngày.
– Một số hiện tượng sinh lý xảy ra trong thời kỳ này là: đỏ da sinh lý, vàng da sinh lý, bong da sinh lý, sụt cân sinh lý, giảm chiều cao sinh lý, tăng trương lực cơ sinh lý, rụng rốn, ỉa phân su, thân nhiệt không ổn định.
2.3. Đặc điểm bệnh lý
– Do cơ thể của trẻ rất non yếu cho nên trẻ dễ bị bệnh và bệnh thường diễn biến nặng, dễ dẫn đến tử vong. Qua thống kê cho thấy lứa tuổi này có tỷ lệ tử vong cao nhất.
– Đứng đầu về bệnh tật trong lứa tuổi sơ sinh là các bệnh nhiễm trùng như viêm rốn, uốn ván rốn, viêm da, viêm phổi, nhiễm trùng máu và các bệnh nhiễm trùng khác.
– Đứng thứ hai là các bệnh do rối loạn quá trình hình thành và phát triển thai nhi: quái thai, đẻ non, các dị tật bẩm sinh như sứt môi, hở vòm miệng, tịt hậu môn, lộ bàng quang, tim bẩm sinh vv…
– Sau cùng là các bệnh liên quan đến quá trình sinh đẻ: ngạt, bướu huyết thanh, gãy xương, chảy máu não – màng não vv…
2.4. Chăm sóc và nuôi dưỡng
– Nếu có thể, cho trẻ bú ngay sau đẻ càng sớm càng tốt (xem bài “Nuôi con bằng sữa mẹ”).
– Giữ vệ sinh cho trẻ sơ sinh: Rốn, da, tã lót sạch sẽ.
– Giữ ấm cho trẻ về mùa lạnh, thoáng mát về mùa nóng.
– Hướng dẫn cho bà mẹ về cách cho con bú.
– Giáo dục bà mẹ về chế độ ăn của mẹ và con, cho trẻ uống Vicasol (Vitamin K) liều dự phòng xuất huyết não – màng não.
– Hướng dẫn để bà mẹ đưa trẻ đi tiêm chủng đầy đủ và đúng kỳ hạn.
– Hướng dẫn cho bà mẹ biết theo dõi các hiện tượng sinh lý của trẻ và biết khi nào phải đưa trẻ đi khám.
3. Thời kỳ bú mẹ
3.1. Giới hạn:
Tính từ khi trẻ đượ c 4 tuần lễ cho đến khi trẻ được 12 tháng tuổi.
3.2. Đặc điểm sinh lý
– Ở thời kỳ này, trẻ lớn rất nhanh: Chỉ sau 12 tháng, trọng lượng của trẻ tăng gấp 3 lần, chiều cao tăng gấp rưỡi, vòng đầu tăng thêm 35% so với lúc trẻ ra đời.
– Để đảm bảo cho trẻ lớn nhanh, nhu cầu dinh dưỡng của trẻ trong lứa tuổi này rất cao: 120 – 130 kcal/kg/ngày.
– Cấu tạo và chức năng của ống tiêu hoá chưa hoàn thiện, do vậy để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cao thì thức ăn tốt nhất cho trẻ ở lứa tuổi này là sữa mẹ. Sau 5 tháng tuổi nên bắt đầu cho trẻ ăn sam.
– Hoạt động của hệ thần kinh cao cấp được hình thành, trẻ phát triển nhanh về tâm thần và vận động: Lúc ra đời trẻ chỉ biết khóc và có một số phản xạ bẩm sinh; khi 1 tuổi, trẻ đã biết đứng, biết cầm đồ vật, tập nói và hiểu được nhiều điều.
3.3. Đặc điểm bệnh lý
– Do nhu cầu dinh dưỡng cao, trẻ lớn rất nhanh nhưng chức năng của ống tiêu hoá chưa hoàn thiện, cho nên trẻ dễ bị rối loạn tiêu hoá, ỉa chảy, suy dinh dưỡng và còi xương.
– Trẻ dưới 6 tháng ít bị bệnh lây như sởi do có k háng thể từ mẹ truyền sang. Đây là miễn dịch thụ động.
– Trẻ trên 6 tháng hay bị các bệnh lây như sởi, ho gà, thuỷ đậu, do hệ thống đáp ứng miễn dịch còn yếu, miễn dịch thụ động lại giảm dần.
3.4. Chăm sóc và nuôi dưỡng
– Thức ăn chính của trẻ là sữa mẹ. Cần giáo dục để bà mẹ cho trẻ bú theo nhu cầu.
– Sau 5 tháng tuổi cho trẻ ăn sam. Cần hướng dẫn cho bà mẹ biết cách cho trẻ ăn sam:
+ Ăn từ ít đến nhiều, thay thế dần dần những bữa bú mẹ bằng các bữa ăn
+ Ăn từ loãng đến đặc dần.
+ Tập cho trẻ quen dần với từng món ăn một.
+ Thức ăn sam phải dễ tiêu, phù hợp với lứa tuổi và phải đầy đủ các chất dinh dưỡng, muối khoáng và vitamin (xem phần ô vuông thức ăn).
+ Phải đảm bảo vệ sinh trong ăn uống.
– Giáo dục bà mẹ đưa trẻ đi tiêm phòng 7 bệnh truyền nhiễm theo đúng lịch..
4. Thời kỳ răng sữa
4.1. Giới hạn
Thời kỳ này được tính từ khi trẻ 1 tuổi cho đến 6 tuổi và chia ra 2 giai đoạn:
– Tuổi vườn trẻ: trẻ từ 1 – 3 tuổi.
– Tuổi mẫu giáo: trẻ từ 4 – 6 tuổi.
4.2. Đặc điểm sinh lý
– Ở thời kỳ này, trẻ lớn chậm hơn so với thời kỳ bú mẹ. Chức năng các bộ phận được hoàn thiện dần.
– Chức năng vận động ở thời kỳ này phát triển rất nhanh: Lúc 1 tuổi trẻ mới tập đi, 2 tuổi trẻ đi lại rất lẹ, 3 -4 tuổi trẻ đã biết múa, làm được những động tác đơn giản để tự phục vụ mình (ă n bằng thìa, rửa tay, mặc quần áo), lúc 6 tuổi trẻ biết tập vẽ, tập viết.
– Hệ thống thần kinh cao cấp phát triển mạnh: Lúc 1 – 2 tuổi trẻ mới tập nói, 3 tuổi trẻ nói sõi, 4 tuổi trẻ biết hát và thuộc nhiều bài thơ, lúc 6 tuổi trẻ bắt đầu đi học.
– Trẻ hiếu động, ham thích tìm hiểu môi trường xung quanh, thích tiếp xúc với bạn bè và người lớn, trẻ hay bắt chước, vì vậy những hành vi xấu, tốt của người lớn đều ảnh hưởng đến tính tình, nhân cách của trẻ.
– Sau 6 tháng trẻ bắt đầu mọc răng sữa. Khi trẻ được 24 – 30 tháng thì trẻ đã có đủ 20 răng sữa.
4.3. Đặc điểm bệnh lý
– Do tiếp xúc rộng rãi với môi trường xung quanh, cho nên trẻ dễ mắc các bệnh lây như cúm, sởi, ho gà, bạch hầu, bại liệt, lao, bệnh giun.
– Trẻ 1 – 3 tuổi hay bị các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, tiêu chảy.
– Trẻ 3 – 6 tuổi, do hệ thống đáp ứng miễn dịch đã phát triển, cho nên dễ bị các bệnh dị ứng hay nhiễm trùng – dị ứng như: mẩn ngứa, hen, viêm cầu thận cấp, thận nhiễm mỡ.
4.4. Chăm sóc và giáo dục
Chăm sóc và giáo dục trẻ ở lứa tuổi này có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhân cách của trẻ sau này:
– Giáo dục cho trẻ có ý thức vệ sinh như rửa tay trước khi ăn, không ăn những gì đã rơi xuống đất, rửa tay sau khi đại tiểu tiện, không chơi ở nơi bẩn bụi, thường xuyên phải tắm rửa, giữ gìn áo quần sạch sẽ…
– Tạo điều kiện để trẻ hoạt động vui chơi ngoài trời.
– Hướng dẫn cách ăn mặc, đi giày dép đúng theo mùa.
– Sớm cách ly các cháu bị bệnh.
– Hướng dẫn bà mẹ, người trông giữ trẻ về cách phòng tránh tai nạn tại nhà: rơi ngã, bỏng nước sôi, điện giật, chết đuối…
5. Thời kỳ thiếu niên
5.1. Giới hạn
Tính từ khi trẻ được 6 tuổi cho đến 15 tuổi và được chia ra 2 giai đoạn:
– Tuổi học sinh nhỏ: 6 – 12 tuổi.
– Tuổi học sinh lớn hay tuổi tiền dậy thì :12 – 15 tuổi.
5.2. Đặc điểm sinh lý
– Cấu tạo và chức năng các bộ phận đã hoàn chỉnh.
– Trí tuệ của trẻ phát triển rất nhanh: Trẻ có khả năng tiếp thu học đường, tư duy, sáng tạo và ứng xử khéo léo.
– Tâm sinh lý giới tính phát triển rõ rệt.
– Răng vĩnh viễn thay thế dần răng sữa.
– Hệ thống cơ phát triển mạnh.
– Trẻ 6 – 7 tuổi phát triển nhanh về chiều cao.
– Trẻ 8 – 12 tuổi phát triển rất chậm về chiều cao.
– Trẻ 13 – 18 tuổi chiều cao lại bắt đầu lớn rất nhanh.
5.3. Đặc điểm bệnh lý
– Bệnh lý ở lứa tuổi này gần giống người lớn.
– Trẻ hay bị các bệnh nhiễm trùng – dị ứng như thấp tim, hen, viêm họng, viêm amydal.
– Trẻ có thể bị các bệnh do sai lầm về tư thế khi ngồi học như gù, vẹo cột sống, cận thị.
5.4. Giáo dục phòng bệnh
– Giáo dục cho trẻ làm tốt vệ sinh răng miệng, tránh nhiễm lạnh.
– Phát hiện sớm bệnh viêm họng, thấp tim để điều trị kịp thời.
– Hướng dẫn trẻ ngồi học đúng tư thế, bàn ghế trong nhà trường phải có kích cỡ phù hợp với từng lứa tuổi.
– Phát hiện những trẻ bị cận thị, điếc để đeo kính hoặc đeo máy nghe giúp cho trẻ học tập tốt. 
Tài liệu của giảng viên
---->>> Xem thông tin các khóa học: NVSP Mầm non, Cấp dưỡng mầm non,...